Author - Thong Trung

Phân loại máy thùy chuẩn

Máy thuỷ chuẩn hay còn gọi là máy thuỷ bìnhmáy Ni-vô, có tên tiếng Anh gọi chung là Level hay Automatic Level, là loại máy chủ yếu dùng để xác định chênh cao giữa các điểm. Máy được sử dụng trong lĩnh vực Trắc địa, Khảo sát, Xây dựng,…

 

– Trong Trắc địa, Địa chính: Máy được dùng để dẫn truyền cao độ, xây dựng lưới độ cao,…
– Trong Xây dựng: Máy được dùng để dẫn truyền cao độ điểm, quan trắc lún công trình, san lấp,…
Phân loại:
Có 2 cách phân loại máy thuỷ chuẩn.
Cách thứ nhất: Phân loại theo độ chính xác.
Cách thứ hai: Phân loại theo loại máy.
A. Phân loại theo độ chính xác:
Có 3 loại:
1. Máy thuỷ chuẩn độ chính xác thấp:
Là loại máy có độ chính xác trên 1 km đo đi đo về nằm trong khoảng: 2.0mm đến 2.5mm.
VD:
FPM-Carl Zeiss (Máy Ni cũ): FG-040 (2.0mm).
Leica: Automatic Levels Jogger 20/24 (2.5mm / 2.0mm), NA 720/724 (2.5mm / 2.0mm), Electronic Level SPRINTER 100/100M (2.0mm), Digital Levels DNA03 / DNA10 (đọc bằng mắt 2.0mm),…
Topcon: Automatic Levels AT-G 4 / 6 / 7 / 22 (2.0mm / 2.0mm / 2.5mm / 2.5mm), AT-22A (2.5mm),…
Nikon: Automatic Level AC-2S (2.0mm), AX-2S (2.5mm),…
Sokkia: Automatic Level C410 (2.5mm), C 300 / 310 / 320 / 330 (2.0mm),…
2. Máy thuỷ chuẩn độ chính xác trung bình:
Là loại máy có độ chính xác trên 1 km đo đi đo về nằm trong khoảng: 1.0mm đến 1.5mm.
VD:
FPM-Carl Zeiss (Máy Ni cũ): FG-020 (1.5mm).
Leica: Automatic Levels NA 728 / 730 (1.5mm / 1.2mm), Electronic Level SPRINTER 200/200M (1.5mm), Digital Levels DNA03 / DNA10 (mia mã vạch chuẩn: 1.0mm / 1.5mm),…
Topcon: Electronic Levels DL-101C (đọc bằng mắt: 1.0mm), DL-102C (đọc bằng mắt: 1.5mm, mia mã vạch chuẩn: 1.0mm),…
3. Máy thuỷ chuẩn độ chính xác cao:
Là loại máy có độ chính xác trên 1 km đo đi đo về dưới 1.0mm.
VD:
FPM-Carl Zeiss (Máy Ni cũ): FG-005A (0.5mm), FG-020 (Với bộ trắc vi Micrometer: 0.7mm).

Leica: Digital Levels DNA03 / DNA10 (mia mã vạch Invar: 0.3mm / 0.9mm),…

Topcon: Electronic Levels DL-101C (mia mã vạch Invar: 0.4mm),…
B. Phân loại theo loại máy:
Có 2 loại:
1. Máy thuỷ chuẩn quang cơ: (tên Tiếng Anh là: Automatic Level)
Là loại máy thuỷ chuẩn đo đạc bằng cách đọc số trên mia bằng mắt, ghi chép số liệu vào sổ tay, sau đó tính toán trên các số liệu ghi chép được.
Các loại mia gồm có: mia thường (bằng nhôm, gỗ,…), mia Invar (khung mia bằng gỗ hoặc nhôm, giữa thân mia có khắc vạch chia trên vật liệu invar có độ co giãn rất thấp) cho các loại máy có độ chính xác cao.
VD:
FPM-Carl Zeiss (Máy Ni cũ): FG-040, FG-020, FG-005A
Leica: Automatic Levels Jogger 20/24, NA 720 / 724 / 728 / 730,…
Topcon: Automatic Levels AT-G 4 / 6 / 7 / 22, AT-22A,…
Nikon: Automatic Level AC-2S, AX-2S,…
Sokkia: Automatic Level C410, C 300 / 310 / 320 / 330,…

2. Máy thuỷ chuẩn điện tử: (tên Tiếng Anh là: Electronic Level hay Digital Level)
Là loại máy thuỷ chuẩn đo đạc bằng cách đọc số trên mia mã vạch bằng tia hồng ngoại, hiển thị số đọc trên màn hình LCD. Có loại cho chép tính toán cao độ các điểm, chênh cao giữa các điểm và lưu dữ liệu vào bộ nhớ máy. Sau đó, dữ liệu được trút ra máy tính để xử lý.
Các loại mia gồm có: mia mã vạch thường (thường bằng nhôm 1 mặt có các mã vạch, 1mặt chia vạch như mia thường), mia mã vạch Invar (là loại mia Invar có mã vạch) cho các loại máy có độ chính xác cao.
VD:
Leica: Electronic Level SPRINTER 100/100M 200/200M, Digital Levels DNA03 / DNA10,…
Topcon: Electronic Levels DL-101C / DL-102C,…

Cái nhìn tổng quan về GLONASS – đối thủ chính của GPS

Cái nhìn tổng quan về GLONASS – đối thủ chính của GPS

Mới đây, Ria Novosti dẫn lời Phó thủ tướng Nga Dmitry Rogozin tuyên bố Nga đã đề nghị Ấn Độ cùng tham gia phát triển Hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu GLONASS (Global Navigation Satellite System) trên cơ sở bình đẳng.

 

rước đó, vào tháng 2, theo nhật báo Kommersant, Nga dự kiến chi 346,5 tỷ rúp (gần 12 tỷ USD) vào Hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu GLONASS trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2020. Không phải ngẫu nhiên mà GLONASS lại được quan tâm đầu tư phát triển đến như vậy…

GLONASS – phá bỏ thế độc quyền của GPS

Lý do quan trọng khiến GLONASS nhận được nhiều sự quan tâm là do nỗi lo lắng Mỹ có thể sử dụng thế độc quyền của Hệ thống định vị toàn cầu GPS (Global Positioning System), vốn được quân đội Mỹ phát triển và kiểm soát, để “cúp” tín hiệu vào thời điểm khủng hoảng nào đó.

“Trong vài năm nữa, hầu hết các doanh nghiệp sẽ sử dụng hệ thống tín hiệu điều khiển từ vệ tinh. Tất cả những gì chuyển động – máy bay, xe lửa, tàu thủy, con người, tên lửa và kể cả vật nuôi-đều sử dụng tín hiệu dẫn đường”, Andrei G. Ionin, chuyên viên phân tích hàng không vũ trụ làm việc cho Trung tâm Phân tích chiến lược và công nghệ liên kết với Bộ Quốc phòng Nga, nhận xét trên tờ Thời báo New York.

Ông Andrei G. Ionin cho rằng khi ấy, những nước nào chỉ trông cậy vào GPS của Mỹ sẽ bị sa vào “một cái bẫy địa chính trị” do sự thống trị của Mỹ đối với cơ sở hạ tầng quan trọng trong thời đại internet.

Về lý thuyết, Mỹ có thể không cung cấp tín hiệu cho các quốc gia thù nghịch như Iran hay Triều Tiên, không chỉ trong thời chiến tranh, mà còn là một hình thức “cấm vận” công nghệ cao có thể làm gián đoạn hệ thống cung cấp năng lượng, hoạt động ngân hàng và nhiều ngành công nghiệp khác.

Cho đến nay, Mỹ vẫn tuyên bố chính sách cung cấp tín hiệu không gián đoạn toàn cầu. Mặc dù vậy, Dự án GLONASS của Nga có tầm quan trọng đối với quân đội của nhiều quốc gia trên thế giới, vì nó cung cấp hệ thống định vị không phụ thuộc và chịu sự kiểm soát của Lầu Năm Góc.

GLONASS – dự báo nhiều tiềm năng

Tháng 4 vừa qua, Đài Tiếng nói nước Nga dẫn lời các chuyên gia trong triển lãm thường niên “Công nghệ định vị – 2012” tại Matxcơva cho biết, thị trường đã chứng minh GLONASS là dự án đầy hứa hẹn thay thế cho hệ thống định vị GPS.

Người đứng đầu Cơ quan vũ trụ liên bang Nga Vladimir Popovki) nói: “GLONASS ở Nga là một trong những hệ thống vũ trụ ưu tiên. Nó tác động trực tiếp đến an ninh của đất nước và là sản phẩm ứng dụng phục vụ cho nhu cầu không chỉ ở Nga mà còn ở thị trường quốc tế”.

Đối với thị trường trong nước, theo Giám đốc điều hành Công ty mạng liên bang NIS-GLONASS, Alexander Gurk), hiện GLONASS được ứng dụng trên nhiều lĩnh vực, bắt đầu từ các hệ thống định vị giao thông vận tải thông minh đã có ở thành phố Mat-xcơ-va và Xanh Pê-tec-bua.

Lĩnh vực này bao gồm hàng chục trung tâm điều phối, dự án “Xe buýt an toàn”, “Bến đỗ thông minh” với băng-rôn chạy chữ và những thứ khác. GLONASS chiếm một vị trí đặc biệt trong việc chuẩn bị cho Thế vận hội Olympic mùa đông ở Sochi năm 2014, nơi mà hệ thống kiểm soát giao thông hoạt động trong chế độ thử nghiệm. Điều này cho phép kiểm soát tất cả các phương thức vận tải, kể cả bằng đường hàng không và đường biển.

Hiện có một dự án đáng chú ý là hệ thống kiểm soát đội cơ động, cho phép nhanh chóng đáp ứng các trường hợp khẩn cấp và truy lùng tội phạm theo dấu vết nóng. Dịch vụ “Era-GLONASS” nhanh chóng báo cáo bất kỳ sự cố nào trên đường cho các đội tuần tra đường bộ và đội xe cấp cứu. Theo dự kiến, vào cuối năm 2013 dịch vụ này sẽ đi vào hoạt động.

Tại 15 khu vực của Nga đã thông qua chương trình cụ thể về áp dụng GLONASS. Trong số các khách hàng có Công ty Bưu điện Nga và Transneft, những đơn vị đang làm việc trong điều kiện khó khăn ở Bắc cực.

Theo dự báo, trong vòng 4 năm tới, chỉ tính riêng tiềm lực khai thác GLONASS ở thị trường Nga sẽ đạt mức 4 tỷ USD, lớn hơn rất nhiều so với hiện nay. Không chỉ ở Nga, GLONASS còn triển khai thành công ở các nước Liên Xô (trước đây), Ấn Độ, Pháp, và hiện Nga đang đàm phán về việc thâm nhập thị trường châu Mỹ La-tinh.

Ưu tiên hàng đầu của chính phủ Nga

GLONASS được thiết kế cho cả 2 mục đích dân sự và quân sự. Hệ thống GLONASS bắt đầu được phát triển vào năm 1976, dưới thời Liên Xô (trước đây). Tháng 12-1982, những vệ tinh đầu tiên đã được tên lửa đẩy đưa lên quỹ đạo để tiến hành thử nghiệm và kiểm tra; GLONASS chính thức tạo thành “chùm vệ tinh” vào năm 1995.

Tuy nhiên, ngay sau khi hoàn chỉnh, hệ thống GLONASS rơi vào tình trạng không được quan tâm đầy đủ do sự sụp đổ của nền kinh tế Xô-viết.

Ngay từ đầu những năm 2000, nhiệm vụ khôi phục lại hệ thống GLONASS được Chính phủ Nga ưu tiên đặt lên hàng đầu. Đến năm 2010, GLONASS đã phủ trùm toàn bộ phần lãnh thổ Liên bang Nga. Vào tháng 10-2011, hệ thống GLONASS hoàn chỉnh hợp thành bởi chùm 24 vệ tinh đã được phục hồi theo đúng thiết kế, đảm bảo cung cấp dịch vụ định vị dẫn đường phủ trùm trên khắp toàn cầu. Cùng đó là chương trình hiện đại hóa GLONASS bằng thế hệ vệ tinh định vị mới đang được khẩn trương triển khai.

Theo Space Daily, hiện Nga có một hệ thống gồm 31 vệ tinh GLONASS đang có mặt trên quỹ đạo, trong đó 24 vệ tinh đang hoạt động, 4 vệ tinh dự trữ, 2 vệ tinh đang được bảo dưỡng và 1 vệ tinh đang thử nghiệm. Tới năm 2020, Nga dự định có 30 vệ tinh trên quỹ đạo với 6 vệ tinh dự trữ.

Cơ hội việc làm cho sinh viên tốt nghiệp ngành trắc địa

– Đo đạc lập bản đồ địa chính, trích lục hồ sơ địa chính phục vụ cho công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở (sổ hồng, sổ đỏ) cho người dân (mô phỏng hình vẽ):

 

– Đo đạc lập bản đồ hiện trạng phục vụ công tác đền bù giải phóng mặt bằng để xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp….
– Đo đạc lập bản đồ địa hình phục vụ cho công tác quy hoạch, thiết kế và thi công các công trình xây dựng như: Các tòa nhà cao ốc, đường cao tốc, sân bay, khu đô thị, thủy lợi, thủy điện và các công trình xây dựng khác.
– Tham gia các dự án với các đối tác trong và ngoài nước trong các lĩnh vực về khoa học Trái đất như: Đo vẽ thành lập Bản đồ địa chính, Bản đồ địa hình các loại tỷ lệ; Quan trắc biến dạng các công trình nhà cao tầng, đập thủy điện..v.v..
– Làm việc tại các Sở Tài nguyên và Môi trường của Tỉnh, Thành phố.
– Làm việc tại các Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp Quận , Huyện.
– Làm việc tại các đơn vị địa chính cấp Xã, Phường và Thị trấn.
– Làm việc tại các Công ty, Xí nghiệp chuyên làm công tác Trắc địa – Bản đồ thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường.
– Làm việc tại các Công ty, Xí nghiệp chuyên làm công tác Trắc địa – Bản đồ thuộc Bộ Quốc Phòng.
– Làm việc tại các Công ty Khảo sát Thiết kế, Thi công các công trình, xây dựng, giao thông, thủy lợi …

Lịch sử phát triển của ngành Trắc địa

Sự ra đời và phát triển của ngành Trắc địa gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người. Ngày nay chúng ta đã biết khá rõ lịch sử phát triển của Trắc địa thông qua các tư liệu khảo cổ.

 

Vào khoảng ba ngàn năm trước công nguyên, việc phân chia và chiếm hữu đất đai ở Ai Cập đã ình thành. Hàng năm sau các trận lũ của sông Nin, người ta phải xác định lại ranh giới chiếm hữu đất. Điều đó đã thúc đẩy con người sáng tạo ra các dụng cụ và phương pháp thích hợp để đo đạc, phân chia đất. Đó chính là điểm khởi đầu của môn đo đất. Sau Ai Cập đến nền văn minh Hy Lạp cổ đại. Khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên người Hy Lạp đã đề ra thuyết Trái Đất là một khối cầu. Vào thế kỷ thứ III trước công nguyên nhà thiên văn học Aratosten đã dùng các phương pháp đo đạc để xác định độ dài của kinh tuyến và đưa ra kích thước gần đúng về trái đất. Vào thời đó kiến thức về đo đạc đã góp phần xây dựng thành công các công trình kiến trúc độc đáo ở Ai Cập, Hy Lạp …

Người ta cho rằng thuật ngữ Trắc địa có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ cá nghĩa là phân chia đất đai. Sau này các ngôn ngữ khác đều dùng thuật ngữ đó (Geodesy, Géodésie, Geodezie …)

Bản đồ thế giới đầu tiên đã được nhà thiên văn học Teleme vẽ vào thế kỷ thứ II sau công nguyên. Thế kỷ thứ III, bằng các phương pháp xác trắc địa thuần túy, Kaslo đã xác định được hình dạp quả đất là Elipxoid.  Đến thế kỷ XVIII hai nhà bác học người Pháp là Delambre và Machain đã đo chính xác chiều dài kinh tuyến đi qua Paris tính từ xích đạo đến cực Bắc của trái đất. Chiều dài này đặt bằng 10.000.000 m. Trên cơ sở kết quả này, năm 1971 tổ chức đo lường quốc tế chòn Mét là đơn vị đo dài quốc tế hệ SI ( 1 mét = 1:40.000.000 độ dài kinh tuyến qua Paris). Sau này rất nhiều nhà trắc địa trên thế giới đã xác định kích thước của Elipxoid trái đất như Bessel (1841) Everest (1830), Clarke (1866), Helmert (1906), Kraxovski (1940), và nhiều nước đang dùng WGS (1984).

Ở Việt Nam, từ thời Âu Lạc đã biết sử dụng kiến thức trắc địa và kỹ thuật đo đạc để xây dựng thành Cổ Loa xoáy trôn ốc và sau đó xây dựng kinh đô Thăng Long, dào kênh nhà Lê …

Năm 1946 vua Lê Thánh Tông đã ra lệnh vẽ bản đồ đất nước và Việt Nam đã có tập bản đồ ” Đại Việt Hồng Đức” một dấu ấn quan trọng chứng tỏ tổ tiên ta sớm có kiến thức và biết ứng dụng Trắc địa – Bản đồ trong quản lý và xây dựng đất nước.

Thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp đã lập ” Sở Đạc Điền Đông Dương “, đưa nhân viên ký thuật và dụng cụ đo đạc đến để thành lập các loại bản đồ địa hình, địa chính phục vụ khai thác, vơ vét tài Nguyên ở Đông Dương.

Ngành trắc địa – Bản đồ Việt Nam thực sự trở thành một ngành độc lập từ tháng 10-1959 khi Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập Cục đo đạc bản đồ trực thuộc phủ Thủ Tướng.

Ngày 22-2-1994 Chính phủ ra Quyết định số 12/CP về việc thành lập Tổng cục Địa chính trên cơ sở hợp nhất Tổng cục quản lý ruộng đất và Cục đo đạc bản đồ nhà nước.

Ngành Trắc địa – Bản đồ Việt Nam đã triển khai công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học kyc thuật Trắc địa – Bản đồ trong xây dựng lưới tọa độ, độ cao cấp nhà nước, thành lập các loại bản đồ địa hình, địa chính và bản đồ chuyên đề phục vụ điều tra cơ bản, quản lý, xây dựng và bảo vệ đất nước

Cách sử dụng máy thủy bình và tính cao độ đơn giản

Cách sử dụng máy thủy bình

Về cơ cấu máy thủy bình chúng ta có 3 con ốc phía dưới, trước khi lắp máy vào giá đỡ, điều chỉnh cho 3 cái ốc này đều nhau và chúng ta nên để ở mức trung bình. Lúc bắt máy vào giá đỡ bạn để ba cái ốc trùng với trục của 3 cái chân máy, bằng cách này bạn sẽ cân bằng rất nhanh.

Điều chỉnh sơ bộ bằng 3 cái chân ở giá đỡ trước cho máy đạt được độ cân bằng tương đối, sau đó hiệu chỉnh cân bằng của bọt thủy bằng 3 cái ốc ở máy,

Chú ý: Lúc bọt nước chạy về bên nào thì chỉnh ốc bên đó thấp xuống và ba chân máy thủy bình bạn hãy kéo dài bằng nhau, khoảng cách của ba chân  cũng phải tương đối bằng nhau để máy ở độ cao thích hợp để tiện ngắm nhất, thoải mái nhất. nhớ là phải chắc chắn để khỏi lệch kết quả. Tổt nhất là lúc kéo chân máy ra, lấy giầy hoặc dép tổ ong đạp xuống đất bảo đảm im re

Trường hợp địa hình không bằng phẳng thì cần điều chỉnh bằng chân vì 3 ốc vi sai chỉ điều chỉnh được độ lệch không lớn.

Cách tính cao độ đơn giãn

Bước 1: Đặt máy tại vị trí bất kỳ nhưng máy không nên thấp hơn mốc ( Mốc là một vị trí cố định cho trước)

Bước 2: Cân máy ( Chỉnh sơ bộ bằng chân máy trước cho giọt nước vào trong mới vặn chặt lại để chỉnh 3 ốc trên máy, khi chỉnh nhớ vặn 2 ốc cùng ra hoặc cùng vào sau đó vẵn ốc còn lại)

Bước 3: Ngắm vào MIA đọc só trên Mia ( Mia là cái cây thước cứng có gi số đỏ trắng trên đó, có nhiều loại và nhiều hảng khác nhau, có loại Mia 5m và loại 4m là thường dùng).

  • Khi đọc thì nhớ vận chỉnh tiêu cự và kính ngắm cho nó rỏ mà đọc không có lại sai.
  • Khi đọc thì nhìn thấy số trên MIA ghi tại đít chử E dứoi cùng thì ghi lại số liệu trong sổ là 0050 ( Tức 5cm), nếu đọc được số 11 và nằm tại vị trí đít chử E mầu đỏ thì vui lòng đọc là 1150 ( Tức 1m15cm), cứ 1 khấc nhỏ đen trắng hoặc đỏ trắng thì cộng thêm 1cm

Bước 4 tính cao độ :

  • Nếu mốc họ cho là 0,0 ( Cái này nếu là làm nhà thì thường họ lấy cao độ là hoàn thiện nền nhà để quy ước, nếu là cầu, đường, cảng thì thường lấy theo tọa độ quốc gia nên bạn không cần phải thắc mắc số đó ở đâu ra).
  • Bạn đọc MIA gi được 0050 (đít chử E đầu tiên) thì mốc này đang có cao độ là 0,05 ( Lấy 0,000+0050=0,050). Chú ý số bạn đọc có 4 số là 0050 tức bạn đang đọc theo hàng ngìn nhưng cao độ họ cho là m tức 0,0m.
  • Bạn đọc mia là 1150 thì cao độ là 1,15m ( 0,000+1150=1150m).
  • Nếu bạn đọc được mia lần đầu là 1150 thì cộng vào cao độ mốc chuẩn là 0,0 thì bây giờ cao độ máy sẽ là +1150 (1,15m) ( Bạn lưu lại số này).Các lần sau khi triển khai ra công trình tại các vị trí khác nếu đọc là 9 ( Tức cuối ô của số 9 sang vạch trắng của số 10) thì cao độ tại vị trí này tính như sau.
  • CĐ này = CĐ máy – CĐ mia mới đọc = 1150-900=250 ( Vị trí này đang có cao độ là +25cm)
  • Cứ bạn đọc sô MIA từ lần 2 này trở đi mà cao hơn số bạn cộng cao độ chuẩn lần đầu thì vị trí đó thấp hơn mốc, nếu bạn đọc MIA thấp hơn cố cộng mia chuẩn lần đầu thì nó cao hơn mốc. Cao hơn bao nhiêu thì bạn tự tính?

Phương pháp kiểm nghiệm máy thủy bình

Để đảm bảo chất lượng thành quả đo đạc trước khi đưa máy ra sử dụng nhất thiết phải tiên hành kiểm tra kiểm nghiệm máy thủy bình và mia.

Kiểm nghiệm máy thủy bình

Đốỉ với máy thủy bình có độ chính xác trung bình cần phải kiểm nghiệm các điều kiện sau đây:

1.  Kiểm tra và điều chinh sự làm việc bình thường của các ốc vít của máy thủy bình, núm điêu quang, vành điều chỉnh kính mắt ….

2.  Kiểm tra chất lượng và xác định tham số kỹ thuật  ống kính như: độ phóng đại, vùng ngắm 8, hệ số nhân khoảng cách K, hằng số cộng c…

3.  Xác định trị giá khoảng chia t”  trên ống thủy dài;

  4.  Kiểm tra và điều chỉnh vị trí chuẩn của màng chữ thập (chỉ đứng và trục quay vv của máy phải nằm trong cùng một mặt phang, còn chỉ ngang phải vuông góc với nó).

5.  Kiểm tra và điều chỉnh sự cân bằng hợp lý giữa ống thúy dài với ống thúy tròn, và chỉnh ống thúy để đưa trục quay của máy về vị trí thẳng đứng.

6.  Kiểm nghiệm và điềuxhỉnh điều kiện cơ bản nhất của máy: Trục của ống thúy dài LL phải song song vói trục ngắm cc. Thòng thường mục kiểm nghiệm này được phân thành hai bưốc:

a)  Kiểm nghiệm “sai số giao chéo” (hình chiếu của cc và LL trên mặt nhăng ngang giao chéo nhau).

b)  Kiểm nghiệm sai số góc i (hình chiếu cc và LL trôn mặt phảng thẳng đứng không song song).

7.  Kiểm nghiệm sự ấn định cửa trục ngắm khi điều quang.

8.  Đối với máy tự động cân bằng trục ngắm phải kiểm nghiệm sai số tư điều chỉnh của

bộ tự cân bằng (Kompesator).

Kiểm nghiệm và điều chỉnh điều kiện trục của ống thủy dài và trục ngắm phải song song với nhau ( sai số góc i)

Để có được điều kiện này trước hết ta phải kiểm nghiệm và điều chỉnh cho hình chiếu của chúng trên mặt phẳng nằm ngang song song với nhai, sau đó mới kiểm nghiệm và điều chỉnh tiếp hình chiếu của chúng trên mặt phẳng thẳng đứng phải song song

a)             Hình chiếu của trục ống thúy dài và và trục ngắm trên mặt phẳng nằm ngang phải song song ( kiểm nghiệm “sai số giao chéo”

Đặt máy và mía cách nhau khoảng 50m sao cho trục đứng (quay) cùa máy, một trong ba ốc cân và trục của mía nằm trong cùng một mặt phang thẳng đứng (cùng hướng) như hình 1

Dùng vít nghiêng hoặc ốc (1) đưa bọt nước của ống thúy dài vào giữa và lấy số đọc ao

trên mỉa. Sau đó vặn hai ốc (2) và (3)   vài vòng (ngược chiều nhau) để nghiêng máy sang bên phải và đọc số aR đổng thời quan sát xem bọt nưóc trên ống thúy nghiêng về phía nào. Sau đócũng dùng hai ốc (2) và (3) đưa máy về vị trí ban đầu xem số đọc ao có ổn đinh không. Tương tự lại cho máy nghiêng sang bên trái, đọc số đọc aL. Nếu trong khi nghiêng máy sang cả hai phía phải và trái mà quan sát thấy bọt nước vẫn đứng yên hoặc chuyển động cùng một chiều thì coi như điều kiện đã đảm hảo, Ngoài ra, có thể dựa vào số đọc ao aR, aL để kiểm tra. Cụ thể:

Nếu 1/2(aR + aL ) – a0 < 3mm và hiệu (aR – aL) < 8mm đồng thời trong khi nghiêng máy mà bọt nước lệch không quá một khoảng chia thì coi như điều kiện đã đảm bảo.

Trường hợp điều kiện trên không thoa mãn, nghĩa là có sai số giao chéo, thì dùng que hiệu chỉnh để chỉnh lại ống thúy. Tiến hành lặp lại như trên nếu vẫn chưa đạt thì kiểm ưa lại vị trí chuẩn của màng chữ thập. Trường hợp sai số giao chéo quá lớn phải đưa máy vào xưởng sửa chữa. Để hạn chế sai số giao chéo trên cùng một tuyến thúy chuẩn tiến hành đặt máy sao cho ốc cân số 3 lần lượt ở hai phía PHẢI và TRÁI tuyển đo.

b) Hình chiếu của trục ống thúy dài và trục ngắm trên mặt phang thẳng đứng phải song song (kiểm nghiêm “sai số góc ì “)

Sau khi kiểm nghiệm và điều chỉnh tốt sai số giao chéo, nghĩa là hai trụ CC và LL đã nằm trong hai mặt phẳng thẳng đứng song song với nhau, ta mới tiến hành kiểm nghiệm điều kiện này. Góc lệch giữa hình chiếu hai trục CC và LL trên mặt phẳng thẳng đứng được ký hiệu là i, vì thế còn gọi là “kiểm nghiệm sai số góc i “. Có nhiếu phương pháp kiểm nghiệm sai số góc i dưới đây ta trình bày phương pháp thông dụng nhất.

Nội dung kiểm nghiệm sai số góc i:

Trên bãi đất cứng chọn 4 điểm A,B,C,D thẳng hàng và dùng thước thép đo chiều dài sao cho AD = 80m,   AB = BD =40m, và CB = CD = 20m với độ chênh lệch nhỏ hơn 0,2m dựng mia thẳng đứng

 


Đầu tiên ta đặt máy ở C. Từ hình vẽ ta thấy nêu i =  0, nghĩa là CC//LL, ta đọc được hai số đọc chuẩn aj, bị, còn nếu i ≠ 0 thì sẽ đọc được hai số đọc thực tế a’1 và b’l Sau đó chuyển máy sang điểm A, tương tự ta cố các cặp số đọc a2, b2 (khi ì = 0) và a 2, b 2 (khi i ≠ 0). Giá tri đúng của chênh cao khi không chứa sai số góc ỉ( i = 0  ) sẽ là:hBD = (a1 – b1) = (a2 – b2)                                                       (a)

Ta cần phải xác lập công thức tính tri số góc i và tìm. biện pháp khắc phục nó Nếu ký hiệu độ chênh số đọc do góc i gây ra ứng với khoảng cách 40m là Ah (Ah = a’ -82), theo tính chất các đoạn thẳng tỷ lệ, đối với khoảng cách 80m là 2Ah và với 20m là Ah/2. Để tìm Ah ta lần lượt xét cho hai trường hợp:

Khi đặt máy ở điểm c (điểm giữa của BD). Từ hình vẽ ta có:

a1 = a1’ – ∆h/2

b1=b1’ -∆h/2                                                               (b)

Thay (b) vào (a) ta được:

HBD = a1’ – b1’

nghĩa là loại trừ được ∆h do góc i gây nên


(c)

Từ đây ta có một nhận xét quan trọng: Khi đo thùy chuẩn, nếu đặt máy thủy bình chính xác ở giữa cách đều hai mia thì trong kết quả chênh cao sẽ loại trừ được sai số góc i.

Khi đặt máy thủy bình ở điểm A, khác với trường hợp trên, ta có:

                                            a2 = a’2 – ∆h

b2=b’2 – 2. ∆h                                                               (d)

Rõ ràng là, bằng cách thay (d) vào (a) ta sẽ xác định được lượng ∆h:

∆h = hBD-(a’ 2 –b’ 2) Lưu ý tới công thúc (c) ta có:

∆h = (a’ 1 –b’ 1)-( a’ 2 –b’ 2)              (5.13)
Nếu ký hiệu khoảng cách AB là S và coi góc i rất nhỏ ta có:

∆h = Stgi ~ Si                                (e)
Từ đây ta có công thúc tính góc iị

i = (∆h/s) þ’                         (5-14)

Đối với lưới độ cao từ hạng III trở xuống trong quy phạm quy định nếu i > 10′ và ∆h > 4mm ta phải hiệu chỉnh sai số góc I

Chú ý: Để xác lập công thức tính góc i và Ah, ngoài công thức (5-13) và (5-14) theo cách kiểm nghiệm đã nêu trôn, còn có thể kiểm nghiệm như hình 5.12b. Máy đặt ở điểm giữa c vặ sau đó chuyển sang A nhưng đoạn AB = 0,1BD. Theo quan hệ đoạn thẳng tỷ lệ thì:

b2 = b2-l,l∆h        (5-15)

Phân tích tương tự ta cũng nhận được công thức (5-14).

Cách điều chỉnh sai số góc 

Sau khi tính được ∆h theo công thức (5-13) ta tính được số đọc chuẩn khi i = 0 theo công thúc (d) ta có: a2 = a’2 – ∆h sau đó dựa vào a2 để chỉnh góc i. Đối với loại máy có vít nghiêng, dùng vít này ta đưa số đọc thực a’2 về đúng trị a2. Lúc này bọt nước trên ống thủy dài sẽ bị lệch” Dùng que hiệu chỉnh đưa bọt nưóc vào giữa là được. Đối với loạimáy có bộ tự cân bằpậ nhờ ống thúy dài, sau khi tính được ta đưa vạch chuẩn về trùng với Lúc này bọt nước tệ lệch. Dùng que hiệu chỉnh ta đua nó vào giữa, Đối với loại bộ tự cân bằng nhờ cơn lắc lăng kính, vì không có ống thúy dài nên sau khi bọt nước của ống thúy tròn vào giữa ta phai chỉnh màng chữ thập sao cho chỉ giữa (ngang) trùng với trị chuẩn a2. Sau khi kiểm nghiệm và điều chỉnh xong ta phải kiểm tra lại góc í nếu Ị vẫn vượt quá hạn sal thì tiếp tục làm lại cho đến khi đạt yêu cầu. Vì sai số góc í luôn luônbiến động nên phải kiểm tra hàng ngày và cứ 10 ngày phải kiểm nghiệm và điều chỉnh lại. Bàng 5.1 là ví dụ một lần kiểm tra đơn giản.

Trạm

Số đọc thực trên mặt đen

∆h, i” và a2

Máy

Mia

A

B

a’1

b’1

a’1   –   b’1

1460

1332

0128

∆h

S

i

-0003

40006

-15”46

D

a’2

b’2

a’2  –  b’2

1616

1485

0131

a’2

1619

 

Khái niệm chuyên nghành về trắc địa

       Theo tiếng Hy Lạp thì thuật ngữ ” Trắc địa” có nghĩa là sự ” phân chia đất đai “. Với ý nghĩa đó, chứng tỏ trắc địa đã ra đời từ rất sớm.

       Sự phát triển của nền sản xuất xã hội đòi hỏi Trắc địa ngày càng phải đề cập đến nhiều vấn đề, khái niệm ” Trắc địa ” cũng vì thế có nghĩa rộng hơn. Có thể hiểu “trắc địa” là môn khoa học về các phương pháp, phương tiện đo đạc và xử lý số liệu nhằm xác định hình dạng kích thước trái đất; thành lập thành lập bản đồ, bình đồ, mặt cắt địa hình phục vụ xây dựng các công trình kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu của các ngành kinh tế quốc dân và quốc phòng.

Để thực hiện nhiệm vụ của mình, Trắc địa phải tiến hành đo đạc mặt đất. Công tác đo đạc thực chất quy về đo một số các yếu tố cơ bản như: góc, cạnh, chiều cao…. Với mục đích đo đạc hiệu quả và chính xác, trắc địa đã nghiên cứu ứng dụng các phương pháp trong đo đạc.

Quá trình đo luôn tồn tại các sai số ảnh hưởng tới độ chính xác kết quả đo. Để nhận được các trị đo xác suất nhất và biểu diễn chúng dưới dạng bản đồ, bình đồ và mặt cắt địa hình thì cần phải xử lý số liệu đo. Kiến thức trắc địa cùng với toán học, xác suất thống kê, tin học là những công cụ quan trọng để thực hiện việc xử lý số liệu.

Phương tiện đo là một trong những điều kiện quan trọng để đo đạc chính xác và hiệu quả. Với sự pháp triển mạnh mẽ của các ngành khoa học như quang học, cơ khí chính xác, điện tử, tin học đã chế tạo ra các thiết bị đo hiện đại như toàn đạc điện tửthủy chuẩn điện tử,máy định vị GPS. Máy móc, thiết bị đo đạc hiện đại cùng với công nghệ tiên tiến thực sự là cuộc cách mạng sâu rộng của ngành Trắc địa, mở ra khả năng không chỉ nghiên cứu đo đạc trên bề mặt trái đất, dưới lòng đại dương mà còn không gian ngoài trái đất.

Các chuyên ngành trắc địa

Tùy theo đối tượng, quy mô và phương pháp nghiên cứu khác nhau mà trắc địa được chia thành các chuyên ngành khác nhau.

       Trắc địa cao cấp có phạm vi nghiên cứu rộng lớn mang tính toàn cầu hoặc quốc gia. Nhiệm vụ của trắc địa cao cấp là xác định hình dạng, kích thước, trường trọng lực trái đất; xây dựng hệ thống khống chế Nhà nước với độ chính xác cao làm cơ sở trắc địa Quốc gia; nghiên cứu khoa học, nghiên cứu biến dạng vỏ trái đất. Trắc địa cao cấp còn bao gồm cả trắc địa vệ tinh nghiên cứu đo đạc không gian ngoài mặt đất và trắc địa biển.

       Trắc địa địa hình có nhiệm vụ nghiên cứu quy trình công nghệ đo vẽ bản đồ địa hình mặt đất dùng trong các ngành điều tra, xây dựng cơ bản và quốc phòng.

       Trắc địa ảnh cũng có nhiệm vụ nghiên cứu đo vẽ bản đồ địa hình, nhưng tiến hành bằng cách chụp ảnh mặt đất bằng các máy ảnh đặc biệt từ máy bay, vệ tinh hoặc ngay tại mặt đất; sau đó xử lý các tấm ảnh chụp được để thành lập bản đồ.

       Trắc địa công trình là trắc địa ứng dụng trong xây dựng công trình. Lĩnh vực này, Trắc địa nghiên cứu phương pháp, phương tiện phục vụ thiết kế, thi công xây dựng và theo dõi biến dạng công trình.

       Trắc địa bản đồ có nhiệm vụ nghiên cứu các phương pháp chiếu bản đồ; các phương pháp vẽ, biểu diễn, biên tập và in ấn bản đồ.

Công dụng và cấu tạo máy kinh vĩ

       Máy kinh vĩ dùng để đo góc bằng, góc đứng, ngoài ra còn đo được chiều dài và độ chênh cao theo phương pháp đo cao lượng giác.

       Nếu phân loại máy kinh vĩ  theo đặc điểm cấu tạo bàn độ thì sẽ có máy quang học và điện tử ; còn phân loại theo độ chính xác thì sẽ có máy kinh vĩ chính xác cao, máy có độ chính xác trung bình, và xác thấp.

       Nguyên lý cấu tạo máy kinh vĩ

Các bộ phận cơ bản của máy kinh vĩ  trình bày ở hình 3.2 gồm:

(1)-Ống kính ngắm (2)-Bàn độ đứng

(3)-Bàn độ ngang

(4)-Ống kính hiển vi đọc số

(5)-Ốc hãm và vi động bàn độ ngang

(6)- Gương lấy sáng

(7)-Ống thủy dài bàn độ ngang

(8)-Đế máy

(9)-Ốc cân đế máy

CC’- Trục ngắm của ống kính HH’-Trục quay của ống kính

       VV’- Trục quay của máy kinh vĩ

LL’- Trục của ống thủy dài

Ống kính ngắm

Ống kính ngắm máy kinh vĩ cấu tạo bởi các bộ phận như hình 3.3:

Kính vật (1) và kính mắt (2) là những thấu kính hội tụ kết hợp với nhau tạo thành hệ kính hiển vi.

       Hệ điều quang gồm ốc điều quang (3) và kính điều quang 3′. Khi  vặn  ốc  điều  quang, kính điều quang sẽ di chuyển trong ống kính,  nhờ đó làm thay đổi vị trí ảnh thật ab so với kính vật. Khi ảnh ab trùng với mặt phẳng màng dây chữ thập (4) sẽ cho ảnh ảo a’b’ ngược chiều với vật nhưng được phóng đại lên nhiều lần. Hình 3.4 là nguyên lý tạo ảnh trong ống kính của máy kinh vĩ.

       Màng dây chữ thập (4) là một tấm  kính  mỏng  trên  có  khắc lưới chỉ mảnh dùng làm chuẩn khi đo ngắm. Lưới chỉ chữ thập gồm hai chỉ cơ bản là chỉ đứng và chỉ ngang cắt nhau dạng chữ thập; ngoài ra còn có chỉ trên và dưới dùng để đo khoảng cách.

Ống kính máy kinh vĩ  đặc trưng bởi một số chỉ tiêu kỹ thuật sau:

Độ phóng đại của ống kính :

Trong đó: α – góc nhìn vật qua ống kính; β – góc nhìn vật bằng mắt thường; fv – tiêu cự kính

vật; fm – tiêu cự kính mắt.

Trường ngắm ống kính đặc trưng bởi góc kẹp ε giữa hai đường thẳng xuất phát từ

quang tâm kính vật tới hai đầu đường kính màng dây chữ thập. 

Nguyên lý hoạt động hệ thống định vị GPS

       Hệ định vị toàn cầu GPS (Global Positioning System) được Bộ Quốc phòng Mỹ triển khai từ những năm 70 của thế kỷ 20. Ban đầu, hệ thống này được dùng cho mục đích quân sự, sau đó đã được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác. Với ưu điểm nổi bật như độ chính xác, mức độ tự động hóa cao, hiệu quả kinh tế lớn, khả năng ứng dụng ở mọi nơi, mọi lúc, trên đất liền, trên biển, trên không…nên công nghệ GPS đã đem lại cuộc cách mạng kỹ thuật sâu sắc trong lĩnh vực trắc địa.

       Ở Việt nam, công nghệ GPS đã được nhập vào từ những năm 1990 và đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Trong trắc địa công nghệ GPS đã được ứng dụng để thành lập lưới tọa độ liên lục địa, lưới tọa độ quốc gia cho đến đo vẽ chi tiết bản đồ.

Công nghệ GPS cũng đã được ứng dụng trong trắc địa công trình để thành lập lưới khống chế trong đo vẽ bản đồ, thi công và quan trắc chuyển dịch biến dạng công trình. So với các phương pháp truyền thống thì ứng dụng GPS để thành lập lưới khống chế có ưu điểm nổi bật như: chọn điểm linh hoạt hơn, không cần thông hướng giữa các điểm, cạnh đo nhanh hơn và có thể đo cả ngày lẫn đêm, độ chính xác cao và từ đó hiệu quả cao hơn.

 

Nguyên lý định vị GPS

Các điểm mặt đất được định vị GPS trong hệ tọa độ địa tâm xây dựng trên Elipxoid WGS-84. Hệ tọa độ có gốc tọa độ O là tâm trái đất, trục OX là đường thẳng nối tâm trái đất với giao điểm kinh tuyến gốc cắt đường xích đạo; trục OY vuông góc với OX, trục OZ trùng với trục quay trái đất và vuông góc với mặt phẳng xoy (hình 1.6).


S= vectơ r  – vectơ R

Trong đó:
vectơ R – là vectơ vị trí (XN, YN, ZN ) các điểm cần định vị trên mặt đất tại thời điểm “t” nào đó, đây chính là bốn ẩn số cần xác định đối với vị trí một điểm.

vectơ r – là vectơ vị trí ( Xv, Yv, Yv ) các vệ tinh trên quỹ đạo tại thời điểm “t” đã biết từ thông tin đạo hàng mà máy định vị thu được từ vệ tinh.

S – là khoảng cách giả từ điểm định vị đến vệ tinh mà máy định vị GPS đo được.

Như vậy để định vị một điểm ta cần lập và giải hệ phương trình tối thiểu phải có bốn phương trình dạng (1.1). Số phương trình lớn hơn bốn sẽ được giải theo nguyên lý số bình phương nhỏ nhất, vì vậy càng thu được tín hiệu của nhiều vệ tinh thì độ chính xác định vị càng cao.

Cấu trúc của hệ  thống GPS

       Hệ thống định vị toàn cầu GPS gồm ba bộ phận: đoạn không gian, đoạn điều khiển và
đoạn sử dụng.

Đoạn không gian(space segment)

Đoạn không gian gồm 24 vệ tinh phân bố trên 6 quỹ đạo gần tròn, trên mỗi quỹ đạo có 4 vệ tinh, mặt phẳng quỹ đạo nghiêng với mặt phẳng xích đạo 55o. Các vệ tinh bay trên các quỹ đạo cách mặt đất cỡ 20200km. Chu kỳ chuyển động của vệ tinh trên quỹ đạo là 718 phút (12giờ). Số lượng vệ tinh có thể quan sát được tùy thuộc vào thời gian và vị trí quan sát trên mặt đất, nhưng có thể nói rằng ở bất kỳ thời điểm và vị trí nào trên trái đất cũng có thể quan trắc được tối thiểu 4 vệ tinh và tối đa 11 vệ tinh.
Mỗi vệ tinh đều có đồng hồ nguyên tử có độ ổn định tần số 10-12,  tạo ra tín hiệu với tần số cơ sở fo = 10,23Mhz , từ đó tạo ra sóng tải L1 = 154. fo = 1575,42Mhz ( λ=19cm) và L2
= 120. fo = 1227.60Mhz (λ = 24cm). Các sóng tải được điều biến bởi hai loại code khác nhau:
C/A-code (Coarse/Accquition code), dùng cho mục đích dân sự với độ chính  xác không cao và chỉ điều biến sóng tải L1. Chu kỳ lặp lại của C/A-code là 1 miligiây và mỗi vệ tinh được gắn một C/A code riêng biệt.

P-code(presice code), được dùng cho quân đội Mỹ với độ chính xác cao, điều biến cả sóng tải L1 và L2. Mỗi vệ tinh chỉ được gắn một đoạn code loại này, do đó P-code rất khó bị giải mã để sử dụng nếu không được phép.

Ngoài ra cả lai sóng tải L1 và L2 còn được điều biến bởi các thông tin đạo hàng về: vị trí vệ tinh, thời qian của hệ thống, số hiệu chỉnh đồng hồ vệ tinh, quang cảnh phân bố vệ tinh trên bầu trời và tình trạng của hệ thống.

Đoạn điều khiển(control segment)

Gồm một trạm điều khiển trung tâm đặt tại căn cứ không quân Mỹ gần Colorado Spring và bốn trạm quan sát đặt tại: Hawai(Thái bình dương), Assention Island(Đại tây dương), Diego Garcia(Ấn độ dương) và Kwajalein(Tây Thái bình dương).
Các trạm quan sát đều có máy thu GPS để theo dõi liên tục các vệ tinh, đo các số liệu khí tượng và gửi số liệu này về trạm trung tâm. Số liệu các trạm quan sát được trạm trung tâm xử lý cùng với số liệu đo được của bản thân nó cho thông tin chính xác về vệ tinh, số hiệu chỉnh đồng hồ. Các số liệu này được phát trở lại các vệ tinh, công việc chính xác hóa thông tin được thực hiện 3 lần trong một ngày.

Đoạn sử dụng(User segment)

Đoạn này gồm các máy móc thiết bị thu nhận thông tin từ vệ tinh để khai thác sử dụng. Đó có thể là máy thu riêng biệt, hoạt động độc lập (định vị tuyệt đối) hay một nhóm từ hai máy trở lên hoạt động đồng thời ( định vị tương đối) hoặc hoạt động theo chế độ một máy thu đóng vai trò máy chủ phát tín hiệu hiệu chỉnh cho các máy thu khác ( định vị vi phân).

Các phương pháp định vị GPS

Định vị tuyệt đối

Định vị tuyệt đối là dựa vào trị đo khoảng cách từ vệ tinh đến máy thu GPS để xác định trực tiếp vị trí tuyệt đối của Anten máy thu trong hệ tọa độ WGS-84. Độ chính xác của định vị tuyệt đối khoảng 10m đến 40m.

Định vị tuyệt đối chia thành định vị tuyệt đối tĩnh và định vị tuyệt đối động, ” tĩnh ” hay ” động ” là nói trạng thái của Anten máy thu trong quá trình định vị.

Định vị tương đối

Định vị tương đối là trường hợp dùng hai máy thu GPS đặt ở hai điểm khác nhau, quan trắc đồng bộ các vệ tinh để xác định vị trí tương đối giữa chúng (∆x, ∆y, ∆z) trong hệ
WGS-84, nếu biết tọa độ một điểm thì sẽ tính được tọa độ điểm kia. Độ chính xác định vị
tương đối cao hơn rất nhiều so với định vị tuyệt đối.

Định vị vi phân

Trong định vị vi phân, một máy đặt tại một điểm đã biết tọa độ (trạm gốc), các máy thu khác đặt tại các điểm cần xác định tọa độ(trạm đo). Dựa vào độ chính xác đã biết của trạm gốc, tính số hiệu chỉnh khoảng cách từ trạm gốc đến vệ tinh và hiệu chỉnh này được máy GPS ở trạm gốc phát đi. Máy trạm đo trong khi đo đồng thời vừa thu được tính hiệu vệ tinh và số hiệu chỉnh của trạm gốc và tiền hành hiệu chỉnh kết quả định vị, chính vì thề nâng cao được độ chính xác định vị.

Thông báo kỷ niệm 45 năm thành lập khoa trắc địa

45nam​      Khoa Trắc địa Trường Đại học Mỏ – Địa chất là trung tâm đào tạo cán bộ Trắc địa – Địa chính – Bản đồ cho cả nước. Trong 45 năm qua, Khoa Trắc địa đã đào tạo cho các ngành hàng vạn kỹ sư, hàng trăm thạc sĩ và tiến sĩ, hiện đang công tác trên mọi miền của đất nước. Năm 2011, Khoa Trắc địa sẽ tổ chức Lễ kỷ niệm 45 năm thành lập. Đây là dịp để Khoa nhìn lại chặng đường phát triển và trưởng thành, đồng thời để định hướng cho công tác đào tạo trong thời gian tới. Ngày lễ kỷ niệm cũng là dịp để các thế hệ thầy, cô giáo và sinh viên các khoá trở về họp mặt.
​      Trong quá trình phát triển, Khoa Trắc địa đã nhận được sự hợp tác, giúp đỡ của Quý cơ quan trên nhiều mặt. Những sự hợp tác giúp đỡ đó đã góp phần cùng tập thể Khoa Trắc địa hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo và NCKH trong thời gian qua. Chúng tôi xin trân trọng gửi tới Quý cơ quan lời cảm ơn chân thành và mong nhận được sự hợp tác tiếp tục trong thời gian tới.
​      Để Lễ kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Khoa diễn ra thành công, Ban chủ nhiệm Khoa rất mong nhận được sự ủng hộ về tinh thần và vật chất của Quý cơ quan cùng các thế hệ cựu sinh viên của Khoa Trắc địa hiện đang công tác tại các cơ quan trên mọi miền đất nước.
​      Lễ kỷ niệm 45 năm thành lập khoa Trắc địa và hội thảo khoa học được tổ chức vào ngày 09 tháng 6 năm 2011 tại Trường Đại học Mỏ – Địa chất, Đông Ngạc – Từ Liêm – Hà Nội .
Ban chủ nhiệm khoa xin trân trọng thông báo và kính mời các Thầy, Cô giáo qua các thời kỳ, các cựu sinh viên về dự.

Hội thảo ” Hạ tầng hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu”

 Ngày 23/9, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam phối hợp với Tập đoàn South – Nam Phương (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo “Hạ tầng hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu” (GNSS). Thứ trưởng Thường trực Bộ TN&MT Nguyễn Văn Đức đã đến dự. Đây là lần thứ 3 “Hội thảo Hạ tầng hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu” được tổ chức nhằm giới thiệu các giải pháp công nghệ của các Tập đoàn chuyên sản xuất máy móc, thiết bị trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ có tiếng trên thế giới. Giới thiệu giải pháp công nghệ của Tập Đoàn SOUTH tại Hội thảo Hạ tầng hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu hoi thao ha tang he thong dinh vi toan cau cua south 300x222

Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Văn Đức đánh giá cao nỗ lực của Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam trong việc phối hợp với các hãng sản xuất nổi tiếng trên thế giới tổ chức các hội thảo nhằm lựa chọn giải pháp công nghệ tốt nhất khi Việt Nam xây dựng hệ thống định vị GNSS trên lãnh thổ Việt Nam. Theo Thứ trưởng Nguyễn Văn Đức, công nghệ chủ đạo không những phục vụ công tác điều tra cơ bản mà còn đáp ứng yêu cầu ứng dụng của ngành TN&MT trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội. South – Nam Phương là một Tập đoàn có chế độ hậu mãi tốt và có kinh nghiệm trong việc sản xuất các máy móc thiết bị, có giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.

Chủ tịch Tập đoàn Nam Phương, ông Mã Siêu – Lãnh đạo cấp cao của Tập Đoàn SOUTH cho biết: Nam Phương là một Tập đoàn lớn của Trung Quốc chuyên sản xuất máy toàn đạc, máy điện tử kinh vĩ, máy RTK với tổng sản lượng đứng hàng đầu thế giới.

Hiện nay, Công ty TN&MT miền Nam, Công ty Đo vẽ ảnh số, Trung tâm Tư vấn và dịch vụ đất đai (Tổng Công ty TN&MT) đã sử dụng sản phẩm của South – Nam Phương phục vụ công tác đo đạc địa chính đem lại hiệu quả cao.

Tại Hội thảo, đại diện Tập đoàn Nam Phương đã giới thiệu về Công ty Máy trắc địa Nam Phương tại Việt Nam, giới thiệu về công nghệ GNSS, mạng lưới tham chiếu và giải pháp hiện đại hóa GNSS của South – Nam Phương. Đại diện Công ty TNHH 1 thành viên TN&MT miền Nam chia sẻ kinh nghiệm về việc sử dụng sản phẩm của South vào xây dựng trạm CORS tại Việt Nam.

Kết luận Hội thảo, ông Nguyễn Tuấn Hùng, Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam cho biết, Bộ TN&MT đang giao cho Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam triển khai xây dựng hệ thống định vị toàn cầu trên lãnh thổ Việt Nam. Trước mắt, Cục sẽ triển khai xây dựng các trạm CORS ở khu vực trọng điểm, khu vực phát triển kinh tế và sẽ triển khai tăng dày trên phạm vi toàn quốc.

Theo ông Nguyễn Tuấn Hùng, Tập đoàn Nam Phương đầu tư nghiên cứu kỹ địa hình của Việt Nam từ đó đưa ra giải pháp riêng trong việc xây dựng các trạm định vị trên lãnh thổ Việt Nam. Đây là giải pháp phù hợp với công nghệ của Trung Quốc và Việt Nam. Cục trưởng Nguyễn Tuấn Hùng hy vọng, tới đây khi triển khai xây dựng hệ thống định vị toàn cầu GNSS, Nam Phương sẽ là đơn vị tham gia xây dựng, sản phẩm của Nam Phương sẽ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của Việt Nam.

Giới thiệu giải pháp công nghệ của Tập Đoàn SOUTH tại Hội thảo Hạ tầng hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu quang canh hoi thao he thong dinh vi toan cau 300x225

(Theo Cục Đo Đo Đạc Và Bản Đồ Việt Nam – Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường)

Sự cố quá trình sử lý dữ liệu bằng phần mềm PSURVEY 2.35

Thông tin xác thực của Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường về Sự cố xử lý số liệu trên phần mềm GPSurvey 2.35, Trimble Geomatic Office (TGO)Xác thực của Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường về Sự cố xử lý số liệu trên phần mềm GPSurvey 2.35, Trimble Geomatic Office trimble geomatic office 300x217

      Trong thời gian từ ngày 14 tháng 09 năm 2011 đến nay, nhiều đơn vị sử dụng công nghệ GPS tĩnh (Đo lưới khống chế trắc địa) ở Việt Nam đã gặp phải vấn đề không bình thường. Các máy thu tín hiệu vệ tinh GPS của nhiều hãng thực hiện thu tín hiệu vệ tinh ở thực địa nhưng không xử lý được số liệu đo cạnh trên các phần mềm GPSurvey 2.35, Trimble Geomatic Office (TGO).
Phòng Công Nghệ Và Thẩm Định – Cục Đo Đạc Và Bản Đồ Việt Nam đã liên hệ với hãng Trimble về vấn đề nêu trên. Bộ phận Hỗ Trợ Khách Hàng đã xác nhận vấn đề này đang sảy ra và cũng đang tìm phương án giải quyết.

       Trong thời gian chưa có phương án xử lý, các đơn vị sử dụng công nghệ và phần mềm nêu trên nên thận trọng trong việc triển khai kế hoạch đo đạc lưới khống chế và liên hệ với các đơn vị cung cấp thiết bị, phần mềm để có được hướng dẫn xử lý tạm thời.

Theo Ths. Vũ Tiến Quang