Để tăng thêm sự gắn kết với khách hàng, cũng như chia sẻ các thông tin hữu ích trong lĩnh vực trắc địa và phục vụ sản xuất đạt kết quả cao. Chúng tôi áp tin bài về chuyên ngành trắc địa, hy vọng có thẻ đem lại một số thông tin khi quý vị cần và mong muốn nhận thêm sự giúp đỡ từ bạn đọc. Chân thành cám ơn !

Cơ hội việc làm cho sinh viên tốt nghiệp ngành trắc địa

– Đo đạc lập bản đồ địa chính, trích lục hồ sơ địa chính phục vụ cho công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở (sổ hồng, sổ đỏ) cho người dân (mô phỏng hình vẽ):

 

– Đo đạc lập bản đồ hiện trạng phục vụ công tác đền bù giải phóng mặt bằng để xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp….
– Đo đạc lập bản đồ địa hình phục vụ cho công tác quy hoạch, thiết kế và thi công các công trình xây dựng như: Các tòa nhà cao ốc, đường cao tốc, sân bay, khu đô thị, thủy lợi, thủy điện và các công trình xây dựng khác.
– Tham gia các dự án với các đối tác trong và ngoài nước trong các lĩnh vực về khoa học Trái đất như: Đo vẽ thành lập Bản đồ địa chính, Bản đồ địa hình các loại tỷ lệ; Quan trắc biến dạng các công trình nhà cao tầng, đập thủy điện..v.v..
– Làm việc tại các Sở Tài nguyên và Môi trường của Tỉnh, Thành phố.
– Làm việc tại các Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp Quận , Huyện.
– Làm việc tại các đơn vị địa chính cấp Xã, Phường và Thị trấn.
– Làm việc tại các Công ty, Xí nghiệp chuyên làm công tác Trắc địa – Bản đồ thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường.
– Làm việc tại các Công ty, Xí nghiệp chuyên làm công tác Trắc địa – Bản đồ thuộc Bộ Quốc Phòng.
– Làm việc tại các Công ty Khảo sát Thiết kế, Thi công các công trình, xây dựng, giao thông, thủy lợi …

Lịch sử phát triển của ngành Trắc địa

Sự ra đời và phát triển của ngành Trắc địa gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người. Ngày nay chúng ta đã biết khá rõ lịch sử phát triển của Trắc địa thông qua các tư liệu khảo cổ.

 

Vào khoảng ba ngàn năm trước công nguyên, việc phân chia và chiếm hữu đất đai ở Ai Cập đã ình thành. Hàng năm sau các trận lũ của sông Nin, người ta phải xác định lại ranh giới chiếm hữu đất. Điều đó đã thúc đẩy con người sáng tạo ra các dụng cụ và phương pháp thích hợp để đo đạc, phân chia đất. Đó chính là điểm khởi đầu của môn đo đất. Sau Ai Cập đến nền văn minh Hy Lạp cổ đại. Khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên người Hy Lạp đã đề ra thuyết Trái Đất là một khối cầu. Vào thế kỷ thứ III trước công nguyên nhà thiên văn học Aratosten đã dùng các phương pháp đo đạc để xác định độ dài của kinh tuyến và đưa ra kích thước gần đúng về trái đất. Vào thời đó kiến thức về đo đạc đã góp phần xây dựng thành công các công trình kiến trúc độc đáo ở Ai Cập, Hy Lạp …

Người ta cho rằng thuật ngữ Trắc địa có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ cá nghĩa là phân chia đất đai. Sau này các ngôn ngữ khác đều dùng thuật ngữ đó (Geodesy, Géodésie, Geodezie …)

Bản đồ thế giới đầu tiên đã được nhà thiên văn học Teleme vẽ vào thế kỷ thứ II sau công nguyên. Thế kỷ thứ III, bằng các phương pháp xác trắc địa thuần túy, Kaslo đã xác định được hình dạp quả đất là Elipxoid.  Đến thế kỷ XVIII hai nhà bác học người Pháp là Delambre và Machain đã đo chính xác chiều dài kinh tuyến đi qua Paris tính từ xích đạo đến cực Bắc của trái đất. Chiều dài này đặt bằng 10.000.000 m. Trên cơ sở kết quả này, năm 1971 tổ chức đo lường quốc tế chòn Mét là đơn vị đo dài quốc tế hệ SI ( 1 mét = 1:40.000.000 độ dài kinh tuyến qua Paris). Sau này rất nhiều nhà trắc địa trên thế giới đã xác định kích thước của Elipxoid trái đất như Bessel (1841) Everest (1830), Clarke (1866), Helmert (1906), Kraxovski (1940), và nhiều nước đang dùng WGS (1984).

Ở Việt Nam, từ thời Âu Lạc đã biết sử dụng kiến thức trắc địa và kỹ thuật đo đạc để xây dựng thành Cổ Loa xoáy trôn ốc và sau đó xây dựng kinh đô Thăng Long, dào kênh nhà Lê …

Năm 1946 vua Lê Thánh Tông đã ra lệnh vẽ bản đồ đất nước và Việt Nam đã có tập bản đồ ” Đại Việt Hồng Đức” một dấu ấn quan trọng chứng tỏ tổ tiên ta sớm có kiến thức và biết ứng dụng Trắc địa – Bản đồ trong quản lý và xây dựng đất nước.

Thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp đã lập ” Sở Đạc Điền Đông Dương “, đưa nhân viên ký thuật và dụng cụ đo đạc đến để thành lập các loại bản đồ địa hình, địa chính phục vụ khai thác, vơ vét tài Nguyên ở Đông Dương.

Ngành trắc địa – Bản đồ Việt Nam thực sự trở thành một ngành độc lập từ tháng 10-1959 khi Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập Cục đo đạc bản đồ trực thuộc phủ Thủ Tướng.

Ngày 22-2-1994 Chính phủ ra Quyết định số 12/CP về việc thành lập Tổng cục Địa chính trên cơ sở hợp nhất Tổng cục quản lý ruộng đất và Cục đo đạc bản đồ nhà nước.

Ngành Trắc địa – Bản đồ Việt Nam đã triển khai công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học kyc thuật Trắc địa – Bản đồ trong xây dựng lưới tọa độ, độ cao cấp nhà nước, thành lập các loại bản đồ địa hình, địa chính và bản đồ chuyên đề phục vụ điều tra cơ bản, quản lý, xây dựng và bảo vệ đất nước

Cách sử dụng máy thủy bình và tính cao độ đơn giản

Cách sử dụng máy thủy bình

Về cơ cấu máy thủy bình chúng ta có 3 con ốc phía dưới, trước khi lắp máy vào giá đỡ, điều chỉnh cho 3 cái ốc này đều nhau và chúng ta nên để ở mức trung bình. Lúc bắt máy vào giá đỡ bạn để ba cái ốc trùng với trục của 3 cái chân máy, bằng cách này bạn sẽ cân bằng rất nhanh.

Điều chỉnh sơ bộ bằng 3 cái chân ở giá đỡ trước cho máy đạt được độ cân bằng tương đối, sau đó hiệu chỉnh cân bằng của bọt thủy bằng 3 cái ốc ở máy,

Chú ý: Lúc bọt nước chạy về bên nào thì chỉnh ốc bên đó thấp xuống và ba chân máy thủy bình bạn hãy kéo dài bằng nhau, khoảng cách của ba chân  cũng phải tương đối bằng nhau để máy ở độ cao thích hợp để tiện ngắm nhất, thoải mái nhất. nhớ là phải chắc chắn để khỏi lệch kết quả. Tổt nhất là lúc kéo chân máy ra, lấy giầy hoặc dép tổ ong đạp xuống đất bảo đảm im re

Trường hợp địa hình không bằng phẳng thì cần điều chỉnh bằng chân vì 3 ốc vi sai chỉ điều chỉnh được độ lệch không lớn.

Cách tính cao độ đơn giãn

Bước 1: Đặt máy tại vị trí bất kỳ nhưng máy không nên thấp hơn mốc ( Mốc là một vị trí cố định cho trước)

Bước 2: Cân máy ( Chỉnh sơ bộ bằng chân máy trước cho giọt nước vào trong mới vặn chặt lại để chỉnh 3 ốc trên máy, khi chỉnh nhớ vặn 2 ốc cùng ra hoặc cùng vào sau đó vẵn ốc còn lại)

Bước 3: Ngắm vào MIA đọc só trên Mia ( Mia là cái cây thước cứng có gi số đỏ trắng trên đó, có nhiều loại và nhiều hảng khác nhau, có loại Mia 5m và loại 4m là thường dùng).

  • Khi đọc thì nhớ vận chỉnh tiêu cự và kính ngắm cho nó rỏ mà đọc không có lại sai.
  • Khi đọc thì nhìn thấy số trên MIA ghi tại đít chử E dứoi cùng thì ghi lại số liệu trong sổ là 0050 ( Tức 5cm), nếu đọc được số 11 và nằm tại vị trí đít chử E mầu đỏ thì vui lòng đọc là 1150 ( Tức 1m15cm), cứ 1 khấc nhỏ đen trắng hoặc đỏ trắng thì cộng thêm 1cm

Bước 4 tính cao độ :

  • Nếu mốc họ cho là 0,0 ( Cái này nếu là làm nhà thì thường họ lấy cao độ là hoàn thiện nền nhà để quy ước, nếu là cầu, đường, cảng thì thường lấy theo tọa độ quốc gia nên bạn không cần phải thắc mắc số đó ở đâu ra).
  • Bạn đọc MIA gi được 0050 (đít chử E đầu tiên) thì mốc này đang có cao độ là 0,05 ( Lấy 0,000+0050=0,050). Chú ý số bạn đọc có 4 số là 0050 tức bạn đang đọc theo hàng ngìn nhưng cao độ họ cho là m tức 0,0m.
  • Bạn đọc mia là 1150 thì cao độ là 1,15m ( 0,000+1150=1150m).
  • Nếu bạn đọc được mia lần đầu là 1150 thì cộng vào cao độ mốc chuẩn là 0,0 thì bây giờ cao độ máy sẽ là +1150 (1,15m) ( Bạn lưu lại số này).Các lần sau khi triển khai ra công trình tại các vị trí khác nếu đọc là 9 ( Tức cuối ô của số 9 sang vạch trắng của số 10) thì cao độ tại vị trí này tính như sau.
  • CĐ này = CĐ máy – CĐ mia mới đọc = 1150-900=250 ( Vị trí này đang có cao độ là +25cm)
  • Cứ bạn đọc sô MIA từ lần 2 này trở đi mà cao hơn số bạn cộng cao độ chuẩn lần đầu thì vị trí đó thấp hơn mốc, nếu bạn đọc MIA thấp hơn cố cộng mia chuẩn lần đầu thì nó cao hơn mốc. Cao hơn bao nhiêu thì bạn tự tính?

Phương pháp kiểm nghiệm máy thủy bình

Để đảm bảo chất lượng thành quả đo đạc trước khi đưa máy ra sử dụng nhất thiết phải tiên hành kiểm tra kiểm nghiệm máy thủy bình và mia.

Kiểm nghiệm máy thủy bình

Đốỉ với máy thủy bình có độ chính xác trung bình cần phải kiểm nghiệm các điều kiện sau đây:

1.  Kiểm tra và điều chinh sự làm việc bình thường của các ốc vít của máy thủy bình, núm điêu quang, vành điều chỉnh kính mắt ….

2.  Kiểm tra chất lượng và xác định tham số kỹ thuật  ống kính như: độ phóng đại, vùng ngắm 8, hệ số nhân khoảng cách K, hằng số cộng c…

3.  Xác định trị giá khoảng chia t”  trên ống thủy dài;

  4.  Kiểm tra và điều chỉnh vị trí chuẩn của màng chữ thập (chỉ đứng và trục quay vv của máy phải nằm trong cùng một mặt phang, còn chỉ ngang phải vuông góc với nó).

5.  Kiểm tra và điều chỉnh sự cân bằng hợp lý giữa ống thúy dài với ống thúy tròn, và chỉnh ống thúy để đưa trục quay của máy về vị trí thẳng đứng.

6.  Kiểm nghiệm và điềuxhỉnh điều kiện cơ bản nhất của máy: Trục của ống thúy dài LL phải song song vói trục ngắm cc. Thòng thường mục kiểm nghiệm này được phân thành hai bưốc:

a)  Kiểm nghiệm “sai số giao chéo” (hình chiếu của cc và LL trên mặt nhăng ngang giao chéo nhau).

b)  Kiểm nghiệm sai số góc i (hình chiếu cc và LL trôn mặt phảng thẳng đứng không song song).

7.  Kiểm nghiệm sự ấn định cửa trục ngắm khi điều quang.

8.  Đối với máy tự động cân bằng trục ngắm phải kiểm nghiệm sai số tư điều chỉnh của

bộ tự cân bằng (Kompesator).

Kiểm nghiệm và điều chỉnh điều kiện trục của ống thủy dài và trục ngắm phải song song với nhau ( sai số góc i)

Để có được điều kiện này trước hết ta phải kiểm nghiệm và điều chỉnh cho hình chiếu của chúng trên mặt phẳng nằm ngang song song với nhai, sau đó mới kiểm nghiệm và điều chỉnh tiếp hình chiếu của chúng trên mặt phẳng thẳng đứng phải song song

a)             Hình chiếu của trục ống thúy dài và và trục ngắm trên mặt phẳng nằm ngang phải song song ( kiểm nghiệm “sai số giao chéo”

Đặt máy và mía cách nhau khoảng 50m sao cho trục đứng (quay) cùa máy, một trong ba ốc cân và trục của mía nằm trong cùng một mặt phang thẳng đứng (cùng hướng) như hình 1

Dùng vít nghiêng hoặc ốc (1) đưa bọt nước của ống thúy dài vào giữa và lấy số đọc ao

trên mỉa. Sau đó vặn hai ốc (2) và (3)   vài vòng (ngược chiều nhau) để nghiêng máy sang bên phải và đọc số aR đổng thời quan sát xem bọt nưóc trên ống thúy nghiêng về phía nào. Sau đócũng dùng hai ốc (2) và (3) đưa máy về vị trí ban đầu xem số đọc ao có ổn đinh không. Tương tự lại cho máy nghiêng sang bên trái, đọc số đọc aL. Nếu trong khi nghiêng máy sang cả hai phía phải và trái mà quan sát thấy bọt nước vẫn đứng yên hoặc chuyển động cùng một chiều thì coi như điều kiện đã đảm hảo, Ngoài ra, có thể dựa vào số đọc ao aR, aL để kiểm tra. Cụ thể:

Nếu 1/2(aR + aL ) – a0 < 3mm và hiệu (aR – aL) < 8mm đồng thời trong khi nghiêng máy mà bọt nước lệch không quá một khoảng chia thì coi như điều kiện đã đảm bảo.

Trường hợp điều kiện trên không thoa mãn, nghĩa là có sai số giao chéo, thì dùng que hiệu chỉnh để chỉnh lại ống thúy. Tiến hành lặp lại như trên nếu vẫn chưa đạt thì kiểm ưa lại vị trí chuẩn của màng chữ thập. Trường hợp sai số giao chéo quá lớn phải đưa máy vào xưởng sửa chữa. Để hạn chế sai số giao chéo trên cùng một tuyến thúy chuẩn tiến hành đặt máy sao cho ốc cân số 3 lần lượt ở hai phía PHẢI và TRÁI tuyển đo.

b) Hình chiếu của trục ống thúy dài và trục ngắm trên mặt phang thẳng đứng phải song song (kiểm nghiêm “sai số góc ì “)

Sau khi kiểm nghiệm và điều chỉnh tốt sai số giao chéo, nghĩa là hai trụ CC và LL đã nằm trong hai mặt phẳng thẳng đứng song song với nhau, ta mới tiến hành kiểm nghiệm điều kiện này. Góc lệch giữa hình chiếu hai trục CC và LL trên mặt phẳng thẳng đứng được ký hiệu là i, vì thế còn gọi là “kiểm nghiệm sai số góc i “. Có nhiếu phương pháp kiểm nghiệm sai số góc i dưới đây ta trình bày phương pháp thông dụng nhất.

Nội dung kiểm nghiệm sai số góc i:

Trên bãi đất cứng chọn 4 điểm A,B,C,D thẳng hàng và dùng thước thép đo chiều dài sao cho AD = 80m,   AB = BD =40m, và CB = CD = 20m với độ chênh lệch nhỏ hơn 0,2m dựng mia thẳng đứng

 


Đầu tiên ta đặt máy ở C. Từ hình vẽ ta thấy nêu i =  0, nghĩa là CC//LL, ta đọc được hai số đọc chuẩn aj, bị, còn nếu i ≠ 0 thì sẽ đọc được hai số đọc thực tế a’1 và b’l Sau đó chuyển máy sang điểm A, tương tự ta cố các cặp số đọc a2, b2 (khi ì = 0) và a 2, b 2 (khi i ≠ 0). Giá tri đúng của chênh cao khi không chứa sai số góc ỉ( i = 0  ) sẽ là:hBD = (a1 – b1) = (a2 – b2)                                                       (a)

Ta cần phải xác lập công thức tính tri số góc i và tìm. biện pháp khắc phục nó Nếu ký hiệu độ chênh số đọc do góc i gây ra ứng với khoảng cách 40m là Ah (Ah = a’ -82), theo tính chất các đoạn thẳng tỷ lệ, đối với khoảng cách 80m là 2Ah và với 20m là Ah/2. Để tìm Ah ta lần lượt xét cho hai trường hợp:

Khi đặt máy ở điểm c (điểm giữa của BD). Từ hình vẽ ta có:

a1 = a1’ – ∆h/2

b1=b1’ -∆h/2                                                               (b)

Thay (b) vào (a) ta được:

HBD = a1’ – b1’

nghĩa là loại trừ được ∆h do góc i gây nên


(c)

Từ đây ta có một nhận xét quan trọng: Khi đo thùy chuẩn, nếu đặt máy thủy bình chính xác ở giữa cách đều hai mia thì trong kết quả chênh cao sẽ loại trừ được sai số góc i.

Khi đặt máy thủy bình ở điểm A, khác với trường hợp trên, ta có:

                                            a2 = a’2 – ∆h

b2=b’2 – 2. ∆h                                                               (d)

Rõ ràng là, bằng cách thay (d) vào (a) ta sẽ xác định được lượng ∆h:

∆h = hBD-(a’ 2 –b’ 2) Lưu ý tới công thúc (c) ta có:

∆h = (a’ 1 –b’ 1)-( a’ 2 –b’ 2)              (5.13)
Nếu ký hiệu khoảng cách AB là S và coi góc i rất nhỏ ta có:

∆h = Stgi ~ Si                                (e)
Từ đây ta có công thúc tính góc iị

i = (∆h/s) þ’                         (5-14)

Đối với lưới độ cao từ hạng III trở xuống trong quy phạm quy định nếu i > 10′ và ∆h > 4mm ta phải hiệu chỉnh sai số góc I

Chú ý: Để xác lập công thức tính góc i và Ah, ngoài công thức (5-13) và (5-14) theo cách kiểm nghiệm đã nêu trôn, còn có thể kiểm nghiệm như hình 5.12b. Máy đặt ở điểm giữa c vặ sau đó chuyển sang A nhưng đoạn AB = 0,1BD. Theo quan hệ đoạn thẳng tỷ lệ thì:

b2 = b2-l,l∆h        (5-15)

Phân tích tương tự ta cũng nhận được công thức (5-14).

Cách điều chỉnh sai số góc 

Sau khi tính được ∆h theo công thức (5-13) ta tính được số đọc chuẩn khi i = 0 theo công thúc (d) ta có: a2 = a’2 – ∆h sau đó dựa vào a2 để chỉnh góc i. Đối với loại máy có vít nghiêng, dùng vít này ta đưa số đọc thực a’2 về đúng trị a2. Lúc này bọt nước trên ống thủy dài sẽ bị lệch” Dùng que hiệu chỉnh đưa bọt nưóc vào giữa là được. Đối với loạimáy có bộ tự cân bằpậ nhờ ống thúy dài, sau khi tính được ta đưa vạch chuẩn về trùng với Lúc này bọt nước tệ lệch. Dùng que hiệu chỉnh ta đua nó vào giữa, Đối với loại bộ tự cân bằng nhờ cơn lắc lăng kính, vì không có ống thúy dài nên sau khi bọt nước của ống thúy tròn vào giữa ta phai chỉnh màng chữ thập sao cho chỉ giữa (ngang) trùng với trị chuẩn a2. Sau khi kiểm nghiệm và điều chỉnh xong ta phải kiểm tra lại góc í nếu Ị vẫn vượt quá hạn sal thì tiếp tục làm lại cho đến khi đạt yêu cầu. Vì sai số góc í luôn luônbiến động nên phải kiểm tra hàng ngày và cứ 10 ngày phải kiểm nghiệm và điều chỉnh lại. Bàng 5.1 là ví dụ một lần kiểm tra đơn giản.

Trạm

Số đọc thực trên mặt đen

∆h, i” và a2

Máy

Mia

A

B

a’1

b’1

a’1   –   b’1

1460

1332

0128

∆h

S

i

-0003

40006

-15”46

D

a’2

b’2

a’2  –  b’2

1616

1485

0131

a’2

1619